Cách chẩn đoán tổn thương thở vào có rất nhiều, kết hợp nhiều phương pháp để chẩn đoán chính xác hơn. Các phương pháp kiểm tra thường dùng như sau:
1、X-quang kiểm tra
Trước đây cho rằng X-quang không có giá trị chẩn đoán đối với tổn thương thở vào. Nhưng Vương Thiên Yết và đồng nghiệp(1980)và Dương Trí Nghĩa等(1982)Qua thí nghiệm trên động vật và quan sát lâm sàng, cho rằng chụp X-quang từ vị trí trước phải bên phải, sau chấn thương2~6giờ xuất hiện hẹp khí quản rõ ràng, khí quản hiển thị hình ảnh đốm tối, độ thấu qua giảm, niêm mạc không đều, ở giai đoạn sớm có đặc điểm hẹp khí quản, có thể coi là thay đổi X-quang cần thiết. Khi có phù phổi, sẽ xuất hiện hình ảnh bóng mờ lan tỏa, bóng kính, bóng hình giữa phổi, mở rộng hạch phổi, hình ảnh thẳng hoặc hình trăng non; khi có nhiễm trùng phổi, có thể thấy hình ảnh nhiễm trùng trung tâm hoặc nhiễm trùng lan tỏa và dày đặc; có khi có thể thấy độ trong suốt bóng bầu dục tăng do phổi phì đại bù trừ, và hình ảnh khí thũng do nứt phế bào hoặc bong bóng khí thũng lớn nứt.
2、特殊检查
⑴纤维支气管镜检查
Cường quang nội soi phế quản có thể trực tiếp quan sát mức độ tổn thương của niêm mạc họng, thanh quản, khí quản, phế quản, xác định vị trí tổn thương. Bởi vì nó có thể lấy mẫu, dẫn lưu, rửa trong đường thở, nó cũng là một công cụ điều trị. Qua việc quan sát động của cường quang nội soi phế quản, có thể hiểu rõ về sự phát triển của bệnh tình.
⑵Phương pháp điểm số tế bào rụng
Ambiavagar trong1974Lần đầu tiên Ambiavagar báo cáo về việc quan sát sự thay đổi về hình thái và cấu trúc của các tế bào trong dịch tiết phế quản, cũng như có hạt khói hay không, để chẩn đoán xem có bị vết thương hít hay không. Sau khi bị vết thương hít, hình thái và cấu trúc của tế bào lông bị biến đổi bao gồm rụng lông, mất đĩa cuối, chất nền có màu nhựa sáp, nhân tế bào co lại, nặng hơn có thể nứt hoặc tan rã.
3、Kiểm tra chức năng phổi
⑴Phân tích máu khí
Sau khi bị vết thương hít, PaO2Có sự giảm khác nhau, hầu hết thấp hơn8kPa(60mmHg), diện tích cháy bỏng tương tự mà không có vết thương hít, thường PaO2>10.67kPa(80mmHg). PaO2/FIO2Tỷ lệ giảm (bình thường >53.2kPa), A-aDO2Tăng cao sớm, mức độ tăng có thể dùng để dự đoán tiên lượng. Nếu PaO2Thấp, A-aDO2Tăng cao rõ ràng, cho thấy bệnh tình nặng, tiên lượng xấu.
⑵Đo chức năng phổi
Đối với vết thương hít thấp hơn rất nhạy cảm. Đ主要包括 thể tích phổi trong một giây (FEV1)、tổng thể tích phổi tối đa (FVC)、đường cong lưu lượng thở mạnh nhất - thể tích (MEFV)、tốc độ cao điểm (Peakflow)50% thể tích phổi khi tốc độ và chức năng lực thở (độ顺应 phổi, lực đường thở, độ kháng lực phổi, v.v.). Sau khi bị vết thương hít nặng, ảnh hưởng đến đường thở nhỏ và chất phổi, độ kháng lực đường thở tăng lên50% thể tích phổi khi tốc độ cao điểm có thể giảm xuống41.6±14.3%, độ顺应 phổi giảm, độ kháng lực phổi tăng rõ ràng, MEFV thấp hơn rất nhiều so với giá trị bình thường, FEV1Và FVC đều xuất hiện sớm bất thường. Các thay đổi này do tắc nghẽn đường thở gây ra, vì vậy việc đo chức năng phổi có ý nghĩa nhất định trong việc dự đoán sự phát triển của bệnh tình.