Phù phổi tái mở nên chủ yếu phòng ngừa, và thực hiện sớm phát hiện, sớm chẩn đoán, sớm điều trị, giảm tỷ lệ发病率 và tử vong của phù phổi tái mở, quan trọng là phải hiểu đúng bệnh này, đặc biệt là một số bệnh nhân cao tuổi, yếu, ung thư ác tính, bệnh mủ mạn tính nặng... thường có thiếu máu protein và thiếu oxy, một khi xảy ra phù phổi tái mở dễ dẫn đến suy đa tạng và tử vong. Để phòng ngừa phù phổi tái mở, trong công tác lâm sàng cần chú ý đến các điểm sau:
1、Đối với dịch màng phổi, tích khí, đặc biệt là dịch và khí tích nhiều, phổi bị ép và co cụm trong thời gian dài, tốc độ hút dịch, tích khí và dẫn lưu màng phổi kín phải chậm, và phải ngắt quãng khóa van dẫn lưu hoặc sử dụng van truyền dịch để điều chỉnh lượng dẫn lưu, lượng dịch thải ngày đầu ≤1000ml. Có người đề xuất phổi bị nén7ngày trở lên, lượng dịch thải lần đầu ≤1000ml, lần đầu hút dịch vào500ml, lượng thải khí lần đầu ≤3/4thể tích nén, số2ngày lượng dịch thải ≤2000ml, việc thải khí có thể tự do.
2、Phải nắm vững chỉ định của việc dẫn lưu màng phổi kín và hút chân không, nếu cần hút chân không, áp lực không được vượt quá20cmH2O(1.96kPa).
3、Trong quá trình gây mê nội khí quản kép cho phẫu thuật mở ngực, cần thực hiện thông khí hai phổi ngắt quãng, tránh để phổi bên cần mổ co cụm trong thời gian dài. Trong quá trình hồi sức, tốt nhất nên sử dụng bóng khí để tái mở phổi, tốc độ phải chậm, lượng khí thở phải适中.
4、Khi có hiện tượng thải khí, thải dịch, dẫn lưu khí, dịch hoặc sau phẫu thuật, cần theo dõi chặt chẽ bệnh nhân, nếu trong thời gian ngắn xuất hiện khó thở, ngắn thở, tim đập nhanh, ho liên tục hoặc thường xuyên, cần cảnh báo cao về sự xuất hiện của phù phổi tái mở, ngay lập tức dừng các thao tác liên quan và có thể tiêm vào trong lòng ngực.2khoảng 00ml khí hoặc dịch.
5、Kiểm soát lượng và tốc độ truyền dịch, theo dõi lượng nước tiểu chặt chẽ, khi cần thiết tiến hành theo dõi áp lực tĩnh mạch trung tâm và chụp X-quang ngực đầu giường.